TAGORE hay Bài thơ CON NGƯỜI giữa Thiên nhiên và Thần thánh

LTS: Nhân 150 năm Sinh nhật Tagore, Tác giả Hoành Sơn Hoàng Sỹ Quý đã suy niệm và sống với tâm tình tưởng nhớ  và gửi đến độc giả bài viết sau đây

TAGORE hay Bài thơ CON NGƯỜI giữa Thiên nhiên và Thần thánh

Hoành Sơn

Tagore

 

 

 

 

 

 

Cách đây nửa thế kỷ, nhân Bách chu niên Sinh nhật Gandhi (1869-1969), tôi đã viết trên tạp chí Bách Khoa về con người xứ Ấn ấy, mà nhân cách và tư tưởng đã phủ bóng trên năm châu. Tôi có ý nhắm nguyên tắc đấu tranh BẤT BẠO ĐỘNG vì công lý của ông, nguyên tắc đã sinh ra phong trào phản chiến bên Âu Mỹ, và hướng dẫn cuộc đấu tranh chống kỳ thị mầu da của Matin Luther King (1929-1968) bên Hoa Kỳ, mà kết quả là nay có một người da đen được bầu làm tổng thống của Hiệp Chúng Quốc ấy. Bất bạo động thực ra chỉ là luật Giới sát (a-himsâ) của Yoga và của chung Ấn giáo, nhưng nó đã được Mohandas Karamchand Gandhi mang phối hợp với luật Yêu kẻ thù của Phúc âm (mà ông bắt gặp và say sưa đọc khi còn học luật ở Luân Đôn), để biến nó thành Tình yêu không biên giới, dù đây là biên giới quốc gia hay chủng tộc, biên giới tín ngưỡng hay ý thức hệ. Yêu thích luật Tin mừng, con người được tôn xưng là Mahâtma (Đại đức, Đại trí) đó cũng bắt chước Chúa Kytô mà xin tha cho kẻ giết mình.

Cùng thời với Mahâtma Gandhi, Ấn Độ cũng sinh cho thế giới một đại thi hào : Tagore, giải Nobel văn chương 1913. Không chỉ là một thiên tài về thơ, Tagore còn là một tâm hồn vĩ đại, đầy lòng yêu sâu xa với cả thiên nhiên lẫn loài người, thiên nhiên và loài người ấy lại được phủ dưới bóng một Đức Chúa và Cha. Do đó, ông rất gần gũi với Kytô giáo chúng ta. Giống Gandhi, Tagore cũng chủ trương một tình yêu không biên giới đối với nhân loại. Và tâm tình ấy vừa bốc cao trong thơ, vừa thể hiện trong đời sống và hành động của ông. Nên năm nay, kỷ niệm 150 năm Sinh nhật thi hào Tagore (1861-2011), không thể chúng ta không nói về con người vĩ đại ấy.

Đại thi hào Tagore và giải Nobel văn chương

Rabindranath Tagore (1861-1941) sinh ở Kolkata (Calcutta) thuộc Tây-Bengal, con thứ 14 của một gia đình vọng tộc.

Là một thần đồng về thơ, ngay khi 13 tuổi Tagore đã có thơ đăng trên tờ báo nổi tiếng của Kolkata là Tattvabodhini Patrika. Có thể nói, cả tâm hồn ông là Thơ, nên thơ ấy vọt từ trong ra một cách rất tự nhiên, thanh thoát. Bốc lên thành lời thơ, cái thi tố ấy cũng thoát ra trong cả những tác phẩm về vũ điệu, âm nhạc… mà ông sáng tác.

Tagore rất yêu thiên nhiên, và thiên nhiên đó là một thiên nhiên thần thánh, nghĩa là có thần náu ẩn bên trong, đang nhẹ bước dưới các lùm cây, trên những lối mòn. Thiên nhiên và thần thánh cũng rất gần gũi với con người. Nói cách khác, thơ của Tagore mang một hương vị đặc biệt, bao trùm cả ba thế giới : Thiên nhiên-Siêu nhiên-Nhân loại.

Tagore sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ Bengali, và sáng tác rất nhiều, ngay từ khi còn thơ ấu. Khi đứng tuổi rồi, ông dành ra 4 năm, từ 1906 đến 1910, để sáng tác một loạt bài riêng biệt. Sau đó, lựa lấy 157 bài ông xuất bản dưới nhan đề Gitanjoli (nghĩa là : Lời ca chào bái). Thế rồi, từ tập bằng tiếng Bengali đó, ông tuyển lựa lần nữa để chuyển sang Anh ngữ dưới cái tên Gitanjali, rồi trao cho bạn bè bên Anh đọc. Họ đọc nghiến ngấu, sửng sốt cả về ý thơ lẫn lời tho. Được khích lệ do đó, năm 1913, ông cho xuất bản Gitanjali với lời dẫn nhập của William Butler, nhà thơ và nhà viết kịch nổi tiếng người Ái Nhĩ Lan. Mau chóng Gitanjali được dịch sang nhìều ngôn ngữ Âu Mỹ, kể cả tiếng Nga. Và tiếng tăm ông lừng lẫy đến nỗi ngay năm 1913 ấy, giải Nobel văn chương đã thuộc về ông rồi. Đây là giải Nobel đầu tiên được trao cho một người Châu Á. Và phải chờ khoảng một thế kỷ sau, năm 2010, mới có hai người Nhật chia chung giải Nobel hóa học với một công dân Hoa Kỳ.

Thơ về một thiên nhiên và loài người phủ dưới bóng thần thánh

Ngay từ bé, Tagore đã yêu thích cỏ cây, bầu trời thanh thoáng. Cậu có thể hằng giờ đứng ngắm cảnh mặt trời mọc, nhô cao trên lùm cây hay bờ sông hoa nở. Thiên nhiên ấy là một thiên nhiên sống, như ta thấy trong bài Dòng chảy sự sống sau đây :

Dòng sống ấy trong tim mạch tôi đêm ngày êm chảy,

Cũng dòng ấy trên hoàn vũ đang múa nhảy nhịp nhàng,

Bật thành niềm vui trên ngọn cỏ, lùm cây,

Chảy lao xao trong nhị hoa, gân lá.

Cũng dòng ấy đu đưa trên gối mẹ, ở đứa trẻ sơ sinh

Khi sống chết đan  nhau như nhấp nhô cơn sóng.

Chạm nguồn sống bao la, con người tôi bừng tỉnh

Với dòng sống muôn đời đang nhẹ đập tim tôi.

Gitanjali

Đầy sức sống, thiên nhiên cũng tàng giấu thần thánh bên trong, như ông tâm sự với một người bạn:

-Rừng cây yên lặng, đó là cây rừng đang nguyện cầu!

Tagore sùng đạo, và lòng đạo ấy rất thâm sâu. Ông theo Ấn giáo, nhưng không phải thứ Bà la môn giáo nhất nguyên (a-dvaita) và thiên về con đường tri thức (jnâana-mârga)(Advaita chủ trương Thiên địa vạn vật nhất thể, nên không có sáng tạo. Con đường tri thức hướng về tu luyện, sao để đạt tới thứ tri thức huyền bí (huyền nghiệm) nó khiến hành giả trở thành một với Nhất thể tối cao.)

. Ông thuộc trào lưu sùng mộ Bhakti mới nổi lên khoảng đầu công nguyên, với Đấng Tối cao là Đức Chúa sáng tạo muôn loài, Đấng yêu thương những người mà Ngài tuyển chọn để ban ân sủng (prasâda) hầu đưa họ tới cứu độ, cũng là được kết hiệp mật thiết với Ngài. Về Tagore, Mẹ Têrêsa Calcutta sống cùng thành phố với ông, đã nhận định như sau:

-“Có một cái gì rất đẹp nơi Rabindranath, và đây là tâm hồn ông, là tình yêu sâu xa của ông đối với Thiên
Chúa…Ông (cũng) yêu loài người một cách thân ái.”

Một trong những bài thơ của Tagore được phổ nhạc và quen hát trong phụng vụ Công giáo Ấn sau đây nói lên tình yêu đối với Thiên Chúa, một Thiên Chúa tàng ẩn giữa sông núi, cỏ cây:

BƯỚC CHÂN IM LẶNG

Nghe thấy không gót chân Ngài êm bước,

Ngài bước đi từng thời khắc, từng năm,

Ngày lại đêm Ngài bước đi, đi mãi.

Tôi ca hát, dù khi vui, lúc khổ,

Bản trường ca về những bước chân Ngài :

Ngài vẫn đi bằng những bước êm êm

Giữa hè trưa cháy nắng qua rừng vắng

Hay mùa mưa Ngài vẫn ngự xe mây.

Lúc tôi khổ : gót chân Ngài trên tim tôi hơi nặng,

Lúc tôi vui : gót ấy chạm êm êm.

Gitanjali

Sở dĩ thơ Tagore được sử dụng rộng rãi trong nghi lễ Kytô giáo, vì tâm hồn ông thấm đượm cái chi đó của hương vị Phúc âm. Chẳng những vì ông theo trào lưu sùng kính Bhakti, mà còn vì ông có dịp tiếp xúc nhiều với Công giáo. Dĩ nhiên là khi đã thành danh, ông quen biết khá đông các danh nhân Công giáo trong cũng như ngoài nước. Nhưng ngay khi 14 tuổi, Tagore đã được gửi học trong một trường Dòng Tên, trường Thánh Xavier rồi. Dù không ưa cách học tại học đường, cả ở Dòng Tên cũng vậy, nhưng ông có ấn tượng rất tốt về các giáo chức của trường này, như ông thú nhận hồi tuổi quá ngũ tuần như sau:

-“ Một kỷ niệm thánh thiêng về Saint Xavier School, kỷ niệm không hề mờ phai trong tâm trí tôi, đó là về các thầy giáo của trường.”

Cũng vì có hảo cảm với trường, nên năm 1927, ông chấp nhận bảo trợ và làm chủ tịch phó cho hiệp hội Các (cựu?) học sinh Xavier. Ông còn tặng cho nhà trường một tượng bán thân Đức Giêsu bằng hoa cương trắng.

Thật ra, ấn tượng của ông về các giáo chức Xavier, chính yếu là về cha giáo Alfonso Penaranda, người rất giỏi về toán và thiên văn học, nhưng nói tiếng Anh thì dở. Số là Penaranda gốc Tây Ban Nha, lại sinh trưởng bên Bỉ nữa. Về vị linh mục này, ông viết trong tập Hồi ký (Reminiscences, Macmillan &Co., London, 1917) như sau::

-“…Dù sao chăng nữa, tôi có một hồi ức nó nâng cao ấn tượng của tôi về các thầy (trường Xavier). Đó là hồi ức về thầy De Penaranda. Thầy làm việc với chúng tôi không nhiều. Nếu nhớ không lầm, thầy chỉ thế chân thầy giáo lớp tôi trong một thời gian ngắn. Thầy là người Tây ban nha, và xem như có những vướng mắc trong việc sử dụng Anh ngữ. Hẳn vì thế, học sinh không mấy chú ý đến những gì thầy nói ra. Tôi cảm thấy như thầy khổ tâm về sự lơ là ấy. Thế nhưng thầy chịu đựng ngày này qua ngày kia với một thái độ dịu hiền. Tôi không hiểu sao, nhưng tôi thấy mến thầy. Hình dáng thầy không hấp dẫn tôi đâu, nhưng thái độ của thầy cuốn hút tôi một cách diệu kỳ. Mỗi khi tôi ngắm thầy, tôi cảm nhận như thầy đang đắm chìm vào cầu nguyện : một sự bình an bao trùm lấy thầy cả bên ngoài lẫn bên trong.

“Một ngày kia, thầy Penaranda phụ trách lớp tôi. Thầy lên lên xuống xuống dọc theo những hàng ghế học trò. Hẳn thầy thấy cán bút tôi không hề động đậy. Thấy bất thần dừng bước sau ghế tôi. Đặt tay êm ái trên vai tôi, thầy hỏi bằng một giọng trìu mến :-Em không khỏe sao, Tagore? Chỉ một câu nói ngắn, nhưng tôi không quên nổi bao giờ.

“Tôi không nói thay những trò khác, tôi chỉ cảm nhận nơi thầy một tâm hồn vĩ đại, vả ngay hôm nay, nhớ lại điều ấy, tôi thấy như nhận được hộ chiếu đi vào Ngôi đền của Chúa –nói cho đúng hơn-, tôi đạt khả thể và khả năng tiến vào Cung điện Thiên Chúa trong im lặng tôn thờ.”

Trong một bài thuyết trình vào cùng thời kỳ viết Reminiscences, Tagore cũng nhắc đến cha Penaranda (Cha thuộc dòng vọng tộc, lại  học rất giỏi nữa, nên dễ thành đạt ngoài đời bên Châu Âu) như sau:

-“Cái đẹp bên trong của thầy Penaranda không chỉ đơm hoa ở chỗ thầy từ bỏ mọi của cải và vinh hoa thế trần. Thái độ và cung cách ứng xử của thầy cắm sâu vào chỗ mà thầy biết là chân lý. Sự kết hợp thường hằng của thầy với vị Tôn sư của thầy (Đức Giêsu) khiến trào lên nơi thầy một cảm giác thỏa thuê. Và hẳn là thầy luôn say sưa trong bầu rượu tôn thờ ấy…”

Quả thật, hiểu được tâm hồn của cha Penaranda đến thế, với ấn tượng sâu xa như vậy, thiết tưởng phải có một cõi lòng cùng loại và cùng cỡ ấy, như Tagore của chúng ta.

Quả thật, Rabindranath sống rất thân tình với Đức Chúa và Cha của ông (Xin xem tạp chí Vidyajyoti, th.8 2011, tr.564-5). Thơ của ông luôn có âm hưởng như thế. Và tình yêu đối với Đức Chúa cũng tràn ra thành tình yêu đối với con người. Con người, nhất nữa con người nông phu hay công nhân đơn sơ, luôn có Đức Chúa ở kề bên, và Ngài muốn chúng ta quan tâm và săn sóc những đồng loại như vậy, như trong bài thơ sau đây :

Hãy để đấy lời ca ngợi bằng tràng hạt anh đếm,

Anh thờ ai ở góc tối ngôi đền đóng cửa cài then,

Hãy mở to mắt : Ngài không ở đó đâu!

Ngài ở đây nơi bác nông phu cày trên đất rắn,

Nơi chú làm đường đập đá mệt phờ.

Ngài ở với họ dưới nắng gắt, mưa giông,

Và y phục Ngài lấm lem cát bụi.

Hãy bỏ áo khoác sang một bên,

Và như Ngài hãy lăn mình vào đất bẩn.

Gitanjali 11

Đúng thế, con người với Tagore là con người sống dưới bóng thần thánh và được bao bọc bởi thiên nhiên. Cũng là con  người mở ra với thế giời, không phân biệt mầu da, quốc gia hay giai cấp:

“Ở đây thế giới không phân mảnh bởi bức tường chật hẹp,

Ở đây lời nói bật ra từ tấm lòng thành,

Những cánh tay rộng mở cùng hướng về toàn thiện,

Và dòng nước trong lý tính đi ngang sa mạc của hủ phong.

Và cõi lòng rộng mở,với tâm tình thanh thoáng nhất:

Xin Cha thức tỉnh nước con về phía thiên đường tự do ấy!

Gitanjali 36

Từ ý thơ đến hành động giáo dục và xã hội

Cả con người Tagore là thơ, nên thơ thế nào thì con người đúng là như vậy. Thơ của Tagore hướng về con người giữa thiên nhiên và thần thánh, nên yêu thiên nhiên và sự thanh thoáng của bầu trời, cậu Rabindranath không chịu nổi cảnh tù túng của nhà trường, cảnh đè nén lẫn nhau trong xã hội. Do đó không thể hiểu thơ Tagore nếu không tìm hiều những hành động cải cách của ông.

Khi đã có thế đứng rồi, ông thành lập một ngôi trường lý tưởng trên khu đất rộng mà một vị chúa tặng cho ở vùng Santiniketan-Sriniketan. Và đây là trường Patha Bhavana, sau này trở thành Đại học Vishva Bharati (Hiệp nhất với toàn cầu), một trong những đại học trung tâm của Ấn, từ đó xuất thân những tên tuổi lớn, như Indira Gandhi. Vishva Bharati vừa mở các ngành khoa học, nghệ thuật, văn chương, vừa hướng về phát triển cộng đống với các ngành canh nông và tái thiết nông thôn. Giữa nhà trường lại có Phòng cầu nguyện, và nhà trường mở ra trước một công viên xanh mát..

Tại Patha Bhavana, các em giải chiếu học dưới các tàng cây. Không chỉ tiếp thu kiến thức từ sách và thầy, các em còn tự giúp nhau tìm tòi, cả trong thiên nhiên nữa, như xem cây lúa mọc ra sao, chim làm tổ thế nào,v.v.

Không chỉ mở ra với thiên nhiên, trường và đại học còn liên kết với môi trường xã hội xung quanh nữa. Giáo dục nhắm đào tạo những con người toàn vẹn, có nhân cách và biết gánh lấy trách nhiệm về cuộc sống của những người túng khổ, người bị ức hiếp và khinh rẻ. Để rồi chung tay đấu cật với nhau, khi còn dưới mái trường hay khi đã lập thân, họ sẽ xây dựng một xã hội công bình và bình đẳng.

Để thực hiện những công trình lớn lao ấy, Tagore có được sự giúp đỡ của gia đình, của một số kẻ giàu tiền nhưng giàu cả tấm lòng nữa, nhất là ông được sự ủng hộ tinh thần và về nhân sự của một ngành trong phong trào canh tân Ấn giáo, Brahmo Samaj.

Brahmo Samaj chủ trương đưa đạo vào đời. Đạo, đó là Ấn giáo nhưng trào lưu Bhakti : yêu mến Đức Chúa. Vào đời, và đây là “Con đường hành động” (karma-yoga), nói cho đúng ra, “Hành động vô cầu”, nghĩa là không vì cái lợi của mình, nhưng vì Chúa và vì bổn phận. Bổn phận theo Brahmo Samaj, đó là tạo dựng một xã hội không còn nghèo khổ, không còn cảnh người hiếp đáp người. Họ muốn phá bỏ những hủ tục như ấu hôn, đa thê, kỳ thị giai cấp và kỳ thị nam nữ. Cùng Tagore, họ mở những lớp học đêm cho nông dân và công nhân, thiết lập những ngân hàng hợp tác và tiết kiệm cho kẻ nghèo, và xuất bản nhật báo đại chúng, hay tiếng nói của những người thấp cổ bé miệng.

Nếu nguyên tắc học hỏi ở trường là Cùng học, thì nguyên tắc làm việc ở cộng đồng là Cùng làm, tức Hợp tác. Vâng, Tagore và nhóm ông mở rất nhiều hợp tác xã. Để các hợp tác xã nông nghiệp và công nghiệp hoạt động, đã có các ngân hàng hợp tác cho vay vốn với lãi thấp. Còn những công việc như đào giếng, đào kênh mương, làm đường, thì chính người dân trong vùng sẽ thi công chung với nhau, với sự trợ giúp của chuyên gia xuất thân từ Vishva Bharati, với vốn vay của các ngân hàng hợp tác.

Vâng, Tagore muốn một phát triển toàn diện cho con người, bao gồm cả trí thức, đức hạnh lẫn thiêng liêng; muốn một canh tân cho cộng đồng, ở đó không có nghèo túng và kỳ thị, ở đó mọi kẻ sống vì mọi người, cũng như không chấp nhận ranh giới dù là của quốc gia hay tín ngưỡng. Con người của ông là thế, trong văn chương hay hành động cũng vậy thôi.

Hoành Sơn

 

This entry was posted on Wednesday, October 5th, 2011 at 3:34 am and is filed under Culture-Văn Hóa, Spiritual-Tâm Linh. You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

Comments are closed.